CloudHà Tĩnh 18° - 26°C
CloudHà Tĩnh 18° - 26°C
Thông báo lịch tiếp công dân định kỳ tháng 4 năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký tham gia các Lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xử lý các vấn đề pháp lý trong đàm phán, thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Luật sưThông báo về việc triển khai thực hiện ấn phẩm "Thanh niên với pháp luật trong kỷ nguyên mới"Thông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025Thông báo Chương trình Chuyên gia trẻ WTO (Young Professional Programme)Thông báo Khóa học nâng cao về Chính sách thương mại của WTO năm 2025 (trình độ 3)Học viện Tư pháp thông báo gia hạn thời gian đăng ký tham gia Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứngThông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025Thông báo lịch tiếp công dân định kỳ tháng 4 năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký tham gia các Lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xử lý các vấn đề pháp lý trong đàm phán, thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Luật sưThông báo về việc triển khai thực hiện ấn phẩm "Thanh niên với pháp luật trong kỷ nguyên mới"Thông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025Thông báo Chương trình Chuyên gia trẻ WTO (Young Professional Programme)Thông báo Khóa học nâng cao về Chính sách thương mại của WTO năm 2025 (trình độ 3)Học viện Tư pháp thông báo gia hạn thời gian đăng ký tham gia Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứngThông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025Thông báo lịch tiếp công dân định kỳ tháng 4 năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký tham gia các Lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng xử lý các vấn đề pháp lý trong đàm phán, thực hiện điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế năm 2025Thông báo về việc gia hạn thời gian đăng ký Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Luật sưThông báo về việc triển khai thực hiện ấn phẩm "Thanh niên với pháp luật trong kỷ nguyên mới"Thông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025Thông báo Chương trình Chuyên gia trẻ WTO (Young Professional Programme)Thông báo Khóa học nâng cao về Chính sách thương mại của WTO năm 2025 (trình độ 3)Học viện Tư pháp thông báo gia hạn thời gian đăng ký tham gia Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứngThông báo nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế Lao động 01/5 năm 2025

Những nội dung cơ bản của Luật thủy sản

Anh Quốc (Phòng VH-XH)20/10/2025
Anh Quốc (Phòng VH-XH)20/10/2025
Ngày 21/11/2017, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật Thủy sản (số 18/2017/QH14), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019, dưới đây là những nội dung cơ bản của Luật Thủy sản năm 2017.

I. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

A. BỐ CỤC CỦA LUẬT

Luật Thủy sản năm 2017 gồm 9 chương với 105 điều, trong đó, giảm 01 chương và tăng 43 điều so với Luật Thủy sản năm 2003, cụ thể như sau:

- Chương I. Những quy định chung; gồm 10 điều (từ Điều 01 đến Điều 10), quy định về phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; sở hữu nguồn lợi thủy sản; nguyên tắc hoạt động thủy sản; chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy sản; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thủy sản; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản; cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

- Chương II. Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản, gồm 12 điều (từ Điều 11 đến Điều 22), quy định về quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản; điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của loài thủy sản; bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tái tạo nguồn lợi thủy sản và phục hồi môi trường sống của loài thủy sản; khu bảo tồn biển; thành lập khu bảo tồn biển; khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản; quản lý nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; quản lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước; nguồn tài chính bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; quỹ cộng đồng.

- Chương III. Nuôi trồng thủy sản, gồm 04 mục với 25 điều (từ Điều 23 đến Điều 47), bao gồm:

Mục 1. Giống thủy sản, gồm 8 điều (từ Điều 23 đến Điều 30) quy định về quản lý giống thủy sản; điều kiện cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; nhập khẩu, xuất khẩu giống thủy sản; khảo nghiệm giống thủy sản; kiểm định giống thủy sản; nhãn, hồ sơ vận chuyển giống thủy sản.

Mục 2. Thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, gồm 6 điều (từ Điều 31 đến Điều 37), quy định về quản lý thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; điều kiện cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; điều kiện cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; khảo nghiệm thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; nhập khẩu, xuất khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, mua bán, nhập khẩu, sử dụng thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.

Mục 3. Nuôi trồng thủy sản, gồm 5 điều (từ Điều 38 đến Điều 42), quy định về điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản; thẩm quyền cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển; nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản.

Mục 4. Giao, cho thuê, thu hồi đất, khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, gồm 5 điều (từ Điều 43 đến Điều 47), quy định về giao, cho thuê, thu hồi đất để nuôi trồng thủy sản; giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản; thu hồi, trưng dụng khu vực biển đã giao để nuôi trồng thủy sản; quyền của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản; nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản.

- Chương IV. Khai thác thủy sản, gồm 04 mục với 14 điều (từ Điều 48 đến Điều 61), bao gồm:

Mục 1. Khai thác thủy sản trong nội địa và trong vùng biển Việt Nam, gồm 5 điều (từ Điều 48 đến Điều 52), quy định về quản lý vùng khai thác thủy sản; hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản trên biển; giấy phép khai thác thủy sản; cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản.

Mục 2. Khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam, gồm 2 điều (Điều 53 và Điều 54), quy định về điều kiện khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam.

Mục 3. Hoạt động thủy sản của tàu nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, gồm 5 điều (từ Điều 55 đến Điều 59), quy định về điều kiện cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài có tàu hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi giấy phép đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài có tàu hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài có tàu hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; giám sát viên trên tàu nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; quyền và trách nhiệm của giám sát viên.

Mục 4. Khai thác thủy sản bất hợp pháp, gồm 2 điều (Điều 60 và Điều 61), quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp; xác nhận, chứng nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác.

- Chương V. Quản lý tàu cá, tàu công thủy sản, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, gồm 02 mục với 25 điều (từ Điều 62 đến Điều 86), bao gồm:

Mục 1. Quản lý tàu cá, tàu công vụ thủy sản, gồm 15 điều (từ Điều 62 đến Điều 76), quy định về quản lý đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá; điều kiện cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá; cấp, cấp lại, thu hồi; giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đóng mới, cải hoán tàu cá;quyền và nghĩa vụ của cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá; xuất khẩu tàu cá, nhập khẩu tàu cá, thuê tàu trần; bảo đảm an toàn kỹ thuật tàu cá; điều kiện cơ sở đăng kiểm tàu cá; cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đăng kiểm tàu cá; quyền và nghĩa vụ của cơ sở đăng kiểm tàu cá, đăng kiểm viên tàu cá; đăng ký tàu cá; xóa đăng ký tàu cá quyền và nghĩa vụ của chủ tàu cá; thuyền viên, người làm việc trên tàu cá thuyền trưởng tàu cá; quản lý tàu công vụ thủy sản.

Mục 2. Cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, gồm 10 điều (từ Điều 77 đến Điều 86), quy định về quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; phân loại cảng cá; mở, đóng cảng cá; quản lý cảng cá; quyền và nghĩa vụ của tổ chức quản lý cảng cá; quy định đối với tàu cá Việt Nam ra, vào cảng cá; quy định đối với tàu nước ngoài hoạt động thủy sản tại Việt Nam ra, vào cảng cá; phân loại khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; quản lý khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; công bố danh sách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá.

- Chương VI. Kiểm ngư, gồm 09 điều, từ Điều 87 đến Điều 95, quy định về chức năng của Kiểm ngư; nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm ngư; tổ chức Kiểm ngư; Kiểm ngư viên; Thuyền viên tàu kiểm ngư; cộng tác viên kiểm ngư; phương tiện, trang thiết bị, trang phục của kiểm ngư; nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động kiểm ngư; điều động, huy động lực lượng, phương tiện trong hoạt động kiểm ngư.

- Chương VII. Mua, bán, sơ chế, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản, gồm 05 điều, từ Điều 96 đến Điều 100, quy định về mua, bán, sơ chế, chế biến thủy sản, sản phẩm thủy sản; bảo quản thủy sản, sản phẩm thủy sản; nhập khẩu, xuất khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản; chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; chợ thủy sản đầu mối.

- Chương VIII. Quản lý nhà nước về thủy sản, gồm 3 điều, từ Điều 101 đến Điều 103, quy định về trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, quan ngang Bộ; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội.

- Chương IX. Điều khoản thi hành, gồm 2 điều, Điều 104, Điều 105, quy định về hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp.

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

Về cơ bản, Luật Thủy sản năm 2017 vẫn giữ nguyên tên chương của Luật Thủy sản năm 2003, giảm 01 chương (09/10) và tăng 43 điều so với Luật Thủy sản năm 2003 (105/62), trong đó có một số thay đổi về kết cấu như sau:

- Bổ sung 01 chương (Kiểm ngư) nhằm thiết lập cơ sở pháp lý cao nhất cho tổ chức và hoạt động của Kiểm ngư Việt Nam, khắc phục những khó khăn, thách thức trong hoạt động đảm bảo thực thi pháp luật thuỷ sản trên biển của lực lượng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực thủy sản của các tỉnh, thành phố ven biển;

- Bỏ 02 chương: Hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản; Khen thưởng và xử lý vi phạm với lý do: Các nội dung về hợp tác quốc tế được thể hiện thành một điều trong chương Quy định chung, nội dung hợp tác về khai thác thủy sản tại nước ngoài, tàu cá nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam, nhập khẩu tàu cá được thể hiện trong chương Khai thác thủy sản. Đối với quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm hiện đã được quy định và thực hiện theo Luật Thi đua khen thưởng, Luật giải quyết Khiếu nại, tố cáo, Luật Thanh tra và Luật Xử lý vi phạm hành chính. Như vậy, việc bỏ các chương này nhằm đảm bảo kỹ thuật soạn thảo theo yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật nên không quy định lại ở Luật này.

1. Những quy định chung (Chương I)

 - Về đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh (Điều 1, Điều 2), Luật vẫn kế thừa phạm vi điều chỉnh của Luật Thủy sản năm 2003 và tách thành hai điều riêng biệt, một điều về phạm vi điều chỉnh và một điều về đối tượng áp dụng. Theo đó, Luật Thủy sản năm 2017 quy định về hoạt động thủy sản; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động thủy sản hoặc có liên quan đến hoạt động thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản. Luật áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động thủy sản hoặc có liên quan đến hoạt động thủy sản trong nội địa, đảo, qun đảo và vùng biển Việt Nam; tổ chức, cá nhân Việt Nam khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam.

- Về giải thích từ ngữ (Điều 3), Luật sửa đổi, bổ sung một số khái niệm về hoạt động thủy sản, nguồn lợi thủy sản, tái tạo nguồn lợi thủy sản, giống thủy sản, tàu cá, cảng cá và bổ sung thêm các khái niệm mới như: đồng quản lý, tổ chức cộng đồng tham gia đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo tồn biển, loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm, loài thủy sản bản địa .v.v..để thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện.

- Về nguyên tắc hoạt động thủy sản (Điều 5), Luật sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc trong Luật Thủy sản 2003 theo hướng cụ thể và phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cụ thể như sau:

 1. Kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh. 2. Khai thác nguồn lợi thủy sản phải căn cứ vào trữ lượng nguồn lợi thủy sản, gắn với bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản, không làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản, không ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; tiếp cận thận trọng, dựa vào hệ sinh thái và các chỉ số khoa học trong quản lý hoạt động thủy sản để bảo đảm phát triển bền vững. 3. Thích ứng với biến đổi khí hậu; chủ động phòng, chống thiên tai; bảo đảm an toàn cho người và phương tiện hoạt động thủy sản; phòng, chống dịch bệnh thủy sản, bảo đảm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường. 4. Bảo đảm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc hưởng lợi từ khai thác, sử dụng nguồn lợi thủy sản hoặc hoạt động trong ngành, nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản. 5. Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

- Về cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản (Điều 9), đây là quy định mới so với Luật Thủy sản năm 2003 nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình bảo quản và sử dụng các số liệu, dữ liệu trong lĩnh vực thủy sản, Luật quy định:

1. Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản được xây dựng thống nhất từ trung ương đến địa phương; được chuẩn hóa để cập nhật, khai thác và quản lý bằng công nghệ thông tin. 2. Tổ chức, cá nhân cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản theo quy định của pháp luật. 3. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định việc cập nhật, khai thác và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản”.

- Về đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Điều 10)

Để tạo cơ sở pháp lý cho Nhà nước giao quyền quản lý cho tổ chức cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản, từng bước thực hiện chủ trương xã hội hóa, tăng cường vai trò, trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Luật quy định rõ:

+ Tổ chức cộng đồng được công nhận và giao quyền quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản khi đáp ứng các điều kiện: thành viên là các hộ gia đình, cá nhân sinh sống và được hưởng lợi từ nguồn lợi thủy sản tại khu vực đó; đăng ký tham gia đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại một khu vực địa lý xác định chưa được giao quyền quản lý cho tổ chức, cá nhân khác; có phương án bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản, quy chế hoạt động của tổ chức cộng đồng.

+ Tổ chức cộng đồng có quyền: tổ chức, quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản, bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản, du lịch giải trí gắn với hoạt động thủy sản trong khu vực được giao quyền quản lý; thực hiện tuần tra, kiểm tra hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trong khu vực được giao quyền quản lý; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm; ngăn chặn hành vi vi phạm trong khu vực được giao quyền quản lý theo quy định của pháp luật và quy chế hoạt động của tổ chức cộng đồng; được tham vấn đối với dự án, hoạt động có liên quan trực tiếp đến hệ sinh thái hoặc nguồn lợi thủy sản trong khu vực được giao quản lý; hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật; thành lập quỹ cộng đồng.

+ Tổ chức cộng đồng có trách nhiệm: thực hiện đúng các nội dung được ghi trong quyết định công nhận và giao quyền quản lý quy định tại khoản 3 Điều này; chấp hành quy định của pháp luật về hoạt động thủy sản; việc thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; phối hợp với cơ quan chức năng thực hiện tuần tra, kiểm tra, thanh tra, điều tra, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm trong khu vực được giao; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hoạt động của tổ chức cộng đồng theo quy định.

2. Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (Chương II)

Trên cơ sở các quy định tại Chương II Luật Thủy sản năm 2003, Luật Luật Thủy sản năm 2017 đã bổ sung thêm một số nội dung sau:

- Bổ sung quy định về quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản (Điều 11). Theo đó, quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản được xây dựng dựa trên các căn cứ về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh; chiến lược phát triển ngành thủy sản; chiến lược khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo, bảo vệ môi trường; chiến lược về bảo tồn đa dạng sinh học; quy hoạch tổng thể quốc gia; quy hoạch không gian biển quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch bảo vệ môi trường; quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học; kết quả điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản; thực trạng và dự báo nhu cầu khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; căn cứ khác theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

          Nội dung chủ yếu của quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản bao gồm: đánh giá hiện trạng quản lý, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; xác định mục tiêu, định hướng và xây dựng phương án tổng thể quản lý, khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; vị trí địa lý, diện tích, ranh giới và bản đồ khu vực dự kiến thành lập khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản; phân vùng khai thác thủy sản; số lượng tàu cá của từng loại nghề; biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; giải pháp, chương trình, kế hoạch thực hiện; nguồn lực, tổ chức thực hiện quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản; nội dung khác theo quy định của pháp luật về quy hoạch.

          - Bổ sung hoạt động điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của loài thủy sản (Điều 12). Nội dung này quy định chi tiết về nội dung, yêu cầu và trách nhiệm thực hiện điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản, cụ thể:

+ Mục đích điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sng của loài thủy sản là nhằm: cung cấp thông tin, dữ liệu, cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý, sử dụng nguồn lợi thủy sản bền vững; xác định trữ lượng, sản lượng cho phép khai thác, đánh giá sự biến động của nguồn lợi thủy sản, chất lượng môi trường sống của loài thủy sản.

+ Chương trình điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của loài thủy sản bao gồm: điều tra, đánh giá tổng thể nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của loài thủy sản trên phạm vi cả nước định kỳ 05 năm; điều tra, đánh giá nghề cá thương phẩm hằng năm; điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của loài thủy sản theo chuyên đề.

- Bổ sung quy định về khu bảo tồn biển (Điều 15) và khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Điều 17). Những quy định này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 9 của Luật Thủy sản năm 2003 và Luật Đa dạng sinh học, theo đó:

+ Khu bảo tồn biển bao gồm vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan. Các khu bảo tồn biển được xác lập dựa trên các tiêu chí như sau:

Đối với tiêu chí xác lập khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, được thực hiện theo quy định của pháp luật về đa dạng sinh học.

Đối với tiêu chí xác lập vườn quốc gia bao gồm: có hệ sinh thái biển quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên; là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thủy sản thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc thuộc nhóm loài thủy sản cấm khai thác trong Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái.

Đối với tiêu chí xác lập khu bảo tồn loài - sinh cảnh bao gồm: khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp quốc gia là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thủy sản thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc thuộc nhóm loài thủy sản cấm khai thác trong Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp tỉnh là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thủy sản đặc hữu hoặc loài thủy sản bản địa có giá trị đặc biệt về khoa học, kinh tế; có giá trị đặc biệt về sinh thái, môi trường.

+ Khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản là nơi cư trú, tập trung sinh sản, nơi thủy sản còn non tập trung sinh sống thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thủy sản thuộc Danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm hoặc loài thủy sản bản địa hoặc loài thủy sản di cư xuyên biên giới.

- Bổ sung quy định về quản lý nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ (Điều 18), theo đó, tổ chức quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ có trách nhiệm xây dựng nội dung về bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh trong kế hoạch quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; thực hiện chế độ quản lý nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; bố trí người có chuyên môn về thủy sản làm công tác quản lý nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái thủy sinh; đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, thực hiện bảo tồn nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái thủy sinh; báo cáo hằng năm hoặc đột xuất về công tác quản lý nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái thủy sinh cho cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản.

Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái thủy sinh trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.

- Bổ sung quy định về quản lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước (Điều 19), theo đó, tổ chức quản lý khu bảo tồn đất ngập nước có trách nhiệm xây dựng nội dung về bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản trong kế hoạch quản lý khu bảo tồn đất ngập nước; thực hiện chế độ quản lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; bố trí người có chuyên môn về thủy sản làm công tác quản lý nguồn lợi thủy sản; đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước; báo cáo hằng năm hoặc đột xuất về công tác quản lý nguồn lợi thủy sản cho cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản. Cơ quan lập dự án thành lập khu bảo tồn đất ngập nước có nguồn lợi thủy sản phải lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý nguồn lợi thủy sản trong khu bảo tồn đất ngập nước

- Bổ sung quy định về quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản (Điều 21) và quỹ cộng đồng (Điều 22).

          Thực tế hoạt động bảo vệ, tái tạo, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản đều gắn liền với địa phương và các cộng đồng dân cư nên rất cần các nguồn tài chính từ xã hội hóa phục vụ thiết thực cho địa phương, cho cộng đồng để bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản. Việc khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên thủy sinh, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản luôn phải gắn liền với cuộc sống, sản xuất của cộng đồng, phải dựa vào cộng đồng mới có thể quản lý hiệu quả. Mặt khác, việc khắc phục sự cố môi trường, hỗ trợ khắc phục hậu quả của thiên tai, dịch bệnh trong hoạt động trồng thủy sản thì địa phương là nơi trực tiếp triển khai thực hiện và chỉ có địa phương thực hiện là thuận lợi, đạt hiệu quả tốt nhất. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều tổ chức, cá nhân muốn được tham gia tái tạo nguồn lợi thông qua việc ủng hộ, từ thiện và điều này chỉ thực hiện thuận lợi khi có Quỹ bảo vệ nguồn lợi thủy sản cấp tỉnh.

          Căn cứ vào nhu cầu thực tiễn, Điều 21 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

1. Quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở trung ương và cấp tỉnh để huy động các nguồn lực của xã hội cho công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

2. Thẩm quyền thành lập quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được quy định như sau: a) Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định thành lập quỹ ở trung ương; b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập quỹ ở cấp tỉnh căn cứ nhu cầu và nguồn lực huy động của địa phương.

3. Nguyên tắc hoạt động của quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được quy định như sau: a) Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; b) Hỗ trợ cho các chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu đầu tư; c) Bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Nguồn tài chính hình thành quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản được quy định như sau: a) Tiền đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản, môi trường sống, khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non tập trung sinh sống và đường di cư của loài thủy sản; b) Tài trợ, từ thiện, vốn nhận ủy thác của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; c) Các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức; cơ chế hoạt động, quản lý, sử dụng tài chính của quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản”.

Bên cạnh đó, để tăng cường nguồn lực cộng đồng, Luật quy định khuyến khích thành lập Quỹ cộng đồng để hỗ trợ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại cộng đồng, cụ thể:

1. Quỹ cộng đồng là quỹ xã hội được thành lập để hỗ trợ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; Nhà nước khuyến khích thành lập quỹ cộng đồng.

2. Quỹ cộng đồng được tiếp nhận hỗ trợ từ quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản và các nguồn tài chính hợp pháp khác.

3. Tổ chức và hoạt động của quỹ cộng đồng thực hiện theo quy định của pháp luật về quỹ”.

3. Nuôi trồng thủy sản (Chương III)

          Trên cơ sở kế thừa Chương IV Luật Thủy sản năm 2003, các quy định về nuôi trồng thủy sản được Luật Thủy sản năm 2017 quy định cụ thể hơn về việc quản lý giống thủy sản, thức ăn và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo hướng quản lý hệ thống, kiểm soát đầu vào từ điều kiện cơ sở và chứng nhận đủ điều kiện trước khi hoạt động, cụ thể:

          - Sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý giống thủy sản (bao gồm cả giống động vật, thực vật thủy sản (Điều 23). Trên cơ sở Điều 33 Luật Thủy sản năm 2003, Luật Thủy sản năm 2017 đã quy định chi tiết về điều kiện của cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản, giống thủy sản bố mẹ và bỏ một số điều kiện không cần thiết được quy định trong Luật Thủy sản năm 2003 nhằm giảm thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng và nâng cao ý thức tự chịu trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình trước pháp luật và minh bạch theo tinh thần của Luật Đầu tư. Luật quy định:

1. Giống thủy sản trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: a) Thuộc Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam; b) Được công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định; c) Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng; d) Được kiểm dịch theo quy định của pháp luật.

2. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm sau đây: a) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giống thủy sản; quy định về thời hạn sử dụng giống thủy sản bố mẹ; trình Chính phủ ban hành Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam; b) Hướng dẫn kiểm tra về điều kiện của cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản; chất lượng giống thủy sản trong sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa; quy định trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp kỹ thuật xử lý vi phạm chất lượng giống thủy sản; hướng dẫn cập nhật thông tin giống thủy sản vào cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản

          - Bổ sung quy định về điều kiện cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống thủy sản (Điều 24), cụ thể:

1. Tổ chức, cá nhân sản xuất giống thủy sản được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sản xuất phù hợp với loài thủy sản; có nơi cách ly theo dõi sức khỏe giống thủy sản mới nhập; b) Có nhân viên kỹ thuật được đào tạo về nuôi trồng thủy sản, bệnh học thủy sản hoặc sinh học; c) Áp dụng hệ thống kiểm soát chất lượng, an toàn sinh học; d) Trường hợp sản xuất giống thủy sản bố mẹ phải có giống thủy sản thuần chủng hoặc giống thủy sản được công nhận thông qua khảo nghiệm hoặc kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

2. Tổ chức, cá nhân ương dưỡng giống thủy sản được cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện khi đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này”.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về nhập khẩu, xuất khẩu giống thủy sản (Điều 27) theo hướng quy định cụ thể hơn về quyền của tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập  khẩu, xuất khẩu giống thủy sản so với Luật Thủy sản năm 2003, cụ thể:

 1. Giống thủy sản nhập khẩu phải được kiểm tra chất lượng theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu giống thủy sản có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam; trường hợp nhập khẩu giống thủy sản không có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam để khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học, trưng bày tại hội chợ, triển lãm phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép.

3. Tổ chức, cá nhân được xuất khẩu giống thủy sản trong các trường hợp sau đây: a) Không có tên trong Danh mục loài thủy sản cấm xuất khẩu; b) Đáp ứng điều kiện trong Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện; c) Trường hợp vì mục đích nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế cần xuất khẩu giống thủy sản có tên trong Danh mục loài thủy sản cấm xuất khẩu hoặc Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện nhưng không đáp ứng đủ điều kiện phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định kiểm tra hệ thống quản lý, sản xuất giống thủy sản tại nước xuất khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trong trường hợp sau đây: a) Đánh giá để thừa nhận lẫn nhau; b) Phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng, môi trường, an toàn sinh học đối với giống thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

- Bổ sung quy định về khảo nghiệm giống thủy sản (Điều 28), theo đó, việc khảo nghiệm chỉ áp dụng trong các trường hợp: đối với giống thủy sản lần đầu được tạo ra trong nước thông qua việc chọn, lai, thụ tinh hoặc sử dụng biện pháp kỹ thuật khác, trừ giống thủy sản được tạo ra từ kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được công nhận hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép; giống thủy sản nhập khẩu để đưa vào sản xuất, kinh doanh chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam.

          - Bổ sung quy định về quản lý thức ăn, sản phẩm xử lý cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản tại Điều 31 theo hướng chuyển từ quản lý danh mục theo như quy định tại Luật Thủy sản năm 2003 sang phương thức quản lý tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với sản phẩm, cụ thể:

“1.Thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trước khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: a) Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hp quy theo quy định; b) Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn đã được công bố áp dụng; c) Thông tin về sản phẩm đã được gửi đến Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quy định.

2. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm sau đây: a) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trưng nuôi trồng thủy sản; b) Ban hành Danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; c) Ban hành Danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam căn cứ kết quả khảo nghiệm hoặc kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được công nhận hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc kết quả rà soát, điều tra, đánh giá thực tiễn; d)Hướng dẫn kiểm tra về điều kiện cơ sở sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản; chất lượng thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản trong sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Luật này và pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; quy định trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp kỹ thuật để xử lý thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản vi phạm quy định về chất lượng; đ) Quy định chi tiết điểm c khoản 1 Điều này; quy định việc đặt tên, sai số cho phép trong phân tích chất lượng, chỉ tiêu kỹ thuật phải công bố trong tiêu chuẩn công bố áp dụng của thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản.

          - Bổ sung quy định về điều kiện cơ sở sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản (Điều 32) và quy định về điều kiện cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản (Điều 33) nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp cụ thể:

1. Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm sản xuất nằm trong khu vực không bị ô nhiễm bởi chất thải nguy hại, hóa chất độc hại; b) Khu sản xuất có tường, rào ngăn cách với bên ngoài; c) Nhà xưởng, trang thiết bị phù hợp với từng loại sản phẩm; d) Có điều kiện phân tích chất lượng trong quá trình sản xuất; đ) Áp dụng hệ thống kiểm soát chất lượng, an toàn sinh học; e) Có nhân viên kỹ thuật được đào tạo về nuôi trồng thủy sản, bệnh học thủy sản, sinh học, hóa học hoặc công nghệ thực phẩm.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

          Cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các điều kiện:

          “1. Nơi bày bán, nơi bảo quản cách biệt với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại.

          2. Có thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp”.

- Bổ sung quy định về thực hiện khảo nghiệm theo hướng thu hẹp các trường hợp phải thực hiện khảo nghiệm (Điều 35), theo đó, đối với thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản chỉ thực hiện khảo nghiệm trong trường hợp có hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản không có tên trong danh mục về hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản và danh mục về hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam căn cứ kết quả khảo nghiệm hoặc kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được công nhận hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc kết quả rà soát, điều tra, đánh giá thực tiễn do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành.

- Bổ sung quy định về nhập khẩu, xuất khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản (Điều 36), cụ thể:

1. Thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản khi nhập khẩu phải được kiểm tra chất lượng. 2. Tổ chức, cá nhân được nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản có hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản thuộc Danh mục hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam; trường hợp nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản có hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn thủy sản không thuộc danh mục quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 31 của Luật này để khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học, trưng bày tại hội chợ, triển lãm phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép. 3. Thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản khi xuất khẩu phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật nước nhập khẩu và pháp luật Việt Nam. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, quyết định kiểm tra hệ thống quản lý, sản xuất thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản tại nước xuất khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trong trường hợp sau đây: a) Đánh giá để thừa nhận lẫn nhau; b) Phát hiện nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh, môi trường đối với sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam. 5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

          - Sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản theo hướng chặt chẽ hơn so với Luật Thủy sản năm 2003 nhằm đảm bảo truy xuất nguồn gốc thủy sản nuôi trồng và đảm bảo an toàn thực phẩm thủy sản và minh bạch theo tinh thần của Luật Đầu tư. Bên cạnh đó, hiện nay, việc sản xuất, kinh doanh thủy sản không làm thực phẩm đang phát triển rất mạnh, nếu không có quy định quản lý có thể sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh; phần lớn thủy sản làm cảnh được nhập khẩu vào việt Nam là các loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại do đó nếu không quản lý sẽ có thể bị ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nếu bị thoát ra ngoài tự nhiên. Do đó, Luật Thủy sản năm 2017 cũng bổ sung quy định này nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý, cụ thể:

1. Cơ sở nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Địa điểm xây dựng cơ sở nuôi trồng thủy sản phải tuân thủ quy định về sử dụng đất, khu vực biển để nuôi trồng thủy sản theo quy định của pháp luật; b) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phù hợp với đối tượng và hình thức nuôi; c) Đáp ứng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, thú y và an toàn lao động; d) Đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; đ) Phải đăng ký đối với hình thức nuôi trồng thủy sản lồng bè và đối tượng thủy sản nuôi chủ lực.

2. Cơ sở nuôi trồng thủy sản dùng làm cảnh, giải trí, mỹ nghệ, mỹ phẩm phải tuân theo quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều này.

3. Tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trên biển phải lập dự án nuôi trồng thủy sản và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép nuôi trồng thủy sản, trừ đối tượng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 44 của Luật này.

4. Thủ tướng Chính phủ quy định đối tượng thủy sản nuôi chủ lực.

5. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản; thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản; thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục đăng ký đối với hình thức nuôi trồng thủy sản lồng bè, đối tượng thủy sản nuôi chủ lực; nội dung, trình tự, thủ tục cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển”.

- Bổ sung quy định về nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm (Điều 40), cụ thể:

1. Tổ chức, cá nhân được phép nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp và pháp luật Việt Nam.

2. Cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh quản lý, xác nhận nguồn gốc loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm có nguồn gốc từ nuôi trồng hoặc khai thác từ tự nhiên.

3. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác nhận nguồn gốc loài thủy sản quy định tại khoản 2 Điều này; điều kiện, thm quyn, trình tự và thủ tục chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, cơ sở trồng cấy nhân tạo loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm”.

- Bổ sung quy định về quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản (Điều 41), theo đó, việc quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản thực hiện theo quy định của pháp luật về thú y và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về giao, cho thuê đất để nuôi trồng thủy sản (Điều 43) theo đó, việc giao, cho thuê, thu hồi đất để nuôi trồng thủy sản thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai. Đây là quy định viện dẫn nhằm tránh chùng lặp với các nội dung đã được quy định tại pháp luật chuyên ngành.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản (Điều 44) theo hướng phân cấp thẩm quyền mạnh cho địa phương trong việc giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, cụ thể:

1. Việc giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản phải căn cứ quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tỉnh và quy định của pháp luật về biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

2. Thẩm quyền giao khu vực biển không thu tiền sử dụng để nuôi trồng thủy sản như sau: a) Ủy ban nhân dân cấp huyện giao khu vực biển cho cá nhân Việt Nam có hồ sơ đăng ký khi cá nhân đó phải chuyển đổi từ nghề khai thác ven bờ sang nuôi trồng thủy sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc thường trú trên địa bàn mà nguồn sống chủ yếu dựa vào thu nhập từ nuôi trồng thủy sản được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú xác nhận. Phạm vi giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 03 hải lý thuộc phạm vi quản lý; b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Phạm vi giao khu vực biển tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm đến 06 hải lý thuộc phạm vi quản lý; c) Bộ Tài nguyên và Môi trường giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Phạm vi giao khu vực biển ngoài 06 hải lý, khu vực biển nằm đồng thời trong và ngoài 06 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm; khu vực biển giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

3. Thẩm quyền giao khu vực biển có thu tiền sử dụng để nuôi trồng thủy sản như sau: a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này; b) Bộ Tài nguyên và Môi trường giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản đối với trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 39 của Luật này;

4. Thời hạn giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản không quá 30 năm, được tính từ ngày quyết định giao khu vực biển có hiệu lực. Khi hết thời hạn giao, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng khu vực biển đã được giao để nuôi trồng thủy sản được Nhà nước xem xét gia hạn, có thể gia hạn nhiều lần nhưng tổng thời gian gia hạn không quá 20 năm. Thời hạn giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ nuôi trồng thủy sản không quá thời hạn nhiệm vụ khoa học và công nghệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

5. Quyết định giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản được sửa đổi, bổ sung trong các trường hợp sau đây: a) Thay đổi thông tin của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản; b) Thay đổi nội dung hồ sơ đăng ký, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dự án nuôi trồng thủy sản dẫn đến thay đổi nội dung quyết định giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản.

6. Chính phủ quy định việc giao, gia hạn, hạn mức, khung giá tiền sử dụng khu vực biển; sửa đổi, bổ sung quyết định giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản”.

4. Khai thác thủy sản (Chương IV)

Trên cơ sở những quy định tại Chương III Luật Thủy sản năm 2003 và các quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, Luật Thủy sản năm 2017 đã bổ sung một số nội dung mới, cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý vùng khai thác thủy sản (Điều 48) theo hướng phân cấp quản lý khu vực khai thác thủy sản theo vùng và bổ sung quyền hạn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong quản lý, khai thác thủy sản, cụ thể:

 “1. Chính phủ quy định vùng biển khai thác thủy sản bao gồm vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi; hoạt động của tàu cá trên các vùng biển.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý khai thác thủy sản tại vùng khơi.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý khai thác thủy sản tại vùng ven bờ, vùng lộng và khai thác thủy sản nội địa trên địa bàn”.

- Bổ sung quy định về hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản trên biển (Điều 49). Đây là nội dung mới thay đổi về phương thức cấp phép so với Luật Thủy sản 2003 nhằm phù hợp với phương thức quản lý của các quốc gia trên thế giới và nhằm kiểm soát được nguồn lợi chặt chẽ hơn, đồng thời là công cụ quản lý hữu hiệu nhằm bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản, cụ thể:

“1. Căn cứ xác định hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản trên biển bao gồm: a) Kết quả điều tra, đánh giá trữ lượng nguồn lợi thủy sản; b) Xu hướng biến động nguồn lợi thủy sản; c) Tổng sản lượng thủy sản tối đa cho phép khai thác bền vững; d) Cơ cấu nghề, đối tượng khai thác, vùng biển khai thác; đ) Trường hợp khai thác loài thủy sản di cư xa hoặc loài thủy sản có tập tính theo đàn phải căn cứ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này và sản lượng cho phép khai thác theo loài. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định loài được quy định tại điểm này. 2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác định, giao hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản, sản lượng cho phép khai thác theo loài tại vùng khơi cho các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. 3. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản, sản lượng cho phép khai thác theo loài tại vùng ven bờ và vùng lộng thuộc phạm vi quản lý. 4. Hạn ngạch giấy phép được công bố, điều chỉnh 60 tháng một lần. Trong trường hợp có biến động về nguồn lợi thủy sản trên cơ sở kết quả điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản theo chuyên đề, điều tra, đánh giá nghề cá thương phẩm hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh sản lượng cho phép khai thác theo loài”.

          - Sửa đổi, bổ sung quy định về giấy phép khai thác thủy sản (Điều 50), theo đó, bổ sung một số trường hợp thu hồi giấy phép khai thác thủy sản; sửa đổi quy định về thời hạn của giấy phép từ 12 tháng như hiện nay lên 60 tháng phù hợp với chu kỳ điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản, phù hợp với quy định của một số một số nước trên thế giới, giảm thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

          - Sửa đổi, bổ sung quy định về cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản (Điều 51) theo hướng phân cấp mạnh cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức thực hiện cấp giấy phép khai thác thủy sản, cụ thể:

 1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam; tổ chức, cá nhân Việt Nam khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam.

3. Chính phủ quy định nội dung, trình tự, thủ tục cấp, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy phép khai thác thủy sản”.

- Bổ sung nhóm quy định về khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam (Điều 53, 54) nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam, đồng thời giảm dần tình trạng vi phạm tại các vùng biển của quốc gia khác của tổ chức, cá nhân Việt Nam, cụ thể:

Điều 53 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

 1. Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chấp thuận đối với tàu cá khai thác thủy sản tại vùng biển của quốc gia, vùng lãnh thổ khác hoặc cấp phép đối với khai thác thủy sản tại vùng biển thuộc quyền quản lý của tổ chức nghề cá khu vực khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia, vùng lãnh thổ có biển cho phép hoặc được tổ chức quản lý nghề cá khu vực cấp hạn ngạch cho Việt Nam; b) Tàu cá có đủ điều kiện hoạt động; đã được đăng ký, có Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá còn hiệu lực ít nhất 06 tháng; có đủ trang thiết bị an toàn cho người và tàu cá; thiết bị giám sát hành trình, thông tin liên lạc phù hợp; c) Thuyền trưởng, máy trưởng phải có văn bằng hoặc chứng chỉ do cơ quan có thẩm quyền cấp; thuyền viên và người làm việc trên tàu cá phải có bảo hiểm, hộ chiếu; trên tàu hoặc một nhóm tàu phải có ít nhất một người biết sử dụng tiếng Anh hoặc ngôn ngữ thông dụng của quốc gia, vùng lãnh thổ mà tàu cá đến khai thác; không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của pháp luật; d) Đáp ứng điều kiện khác theo quy định của tổ chức nghề cá khu vực, quốc gia và vùng lãnh thổ khác.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Điều 54 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

 1. Tàu cá Việt Nam khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam khi được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chấp thuận hoặc cấp phép. 2. Thực hiện thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ có biển mà tàu cá đến khai thác. 3. Tuân thủ pháp luật Việt Nam, quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ có biển và quy định của tổ chức quản lý nghề cá khu vực mà tàu cá đến khai thác. 4. Khi có sự cố tai nạn hoặc tình huống nguy hiểm cần sự giúp đỡ, thuyn viên, người làm việc trên tàu cá phải phát tín hiệu cấp cứu, kịp thời liên hệ với cơ quan chức trách của quốc gia, vùng lãnh thổ gần nhất; thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam nơi quốc gia, vùng lãnh thổ gần nhất, cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh hoặc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 5. Trong quá trình hoạt động khai thác thủy sản trên biển, thuyền trưởng phải mang theo bản chính hoặc bản sao chứng thực giấy tờ liên quan do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, giấy tờ liên quan do quốc gia, vùng lãnh thổ có biển cấp khi tàu cá đến hoạt động trên vùng biển của quốc gia, vùng lãnh thổ đó. 6. Phối hợp với cơ quan chức năng để giải quyết và xử lý vụ việc xảy ra có liên quan đến người và tàu cá do tổ chức, cá nhân đưa đi khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam. 7. Chủ tàu, thuyền trưởng hướng dẫn, phổ biến cho thuyền viên tàu cá về quyền và trách nhiệm khi tiến hành khai thác thủy sản ngoài vùng biển Việt Nam. 8. Chủ tàu cá phải mua bảo hiểm cho thuyền viên và người làm việc trên tàu cá; chịu mọi chi phí trong quá trình đưa tàu cá đi khai thác ngoài vùng biển Việt Nam”.

- Sửa đổi, bổ sung nhóm quy định về điều kiện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có tàu hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam (từ Điều 55 đến Điều 59) trên cơ sở kế thừa nội dung Chương 7 Luật Thủy sản năm 2003 (về hợp tác quốc tế về hoạt động thủy sản) nhằm bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về bảo tồn, khai thác thủy sản, cụ thể:

Điều 55 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

 “Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tàu được cấp phép hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

1. Có thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; giấy phép hoặc chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của nước có tàu cho phép hoạt động tại vùng biển Việt Nam; 2. Có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc dự án hợp tác về khai thác thủy sản được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc dự án hợp tác điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản, huấn luyện kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực thủy sản, thu mua, vận chuyển thủy sản trong vùng biển Việt Nam được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt. Việc phê duyệt dự án về khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam phải căn cứ vào điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 50 của Luật này và tàu không có tên trong danh sách tàu cá hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tổ chức quản lý nghề cá khu vực hoặc tổ chức quốc tế được công nhận xác lập và công bố; 3. Có Giấy chứng nhận đăng ký tàu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia mà tàu mang quốc tịch cấp, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật của tàu do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà tàu mang quốc tịch cấp còn thời hạn ít nhất là 06 tháng, Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; 4. Có danh sách thuyền viên và người làm việc trên tàu; thuyền trưởng, máy trưởng có văn bằng, chứng chỉ phù hợp với loại tàu. Thuyền viên và người làm việc trên tàu nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam là người nước ngoài phải được sự đồng ý của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng; có hộ chiếu và bảo hiểm thuyền viên; 5. Có thiết bị giám sát hành trình theo quy định; 6. Trên tàu phải có ít nhất một người thông thạo tiếng Việt hoặc tiếng Anh”.

Điều 58 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

 “1. Tàu nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam phải có giám sát viên trong trường hợp sau đây: a) Khai thác thủy sản; b) Điều tra nguồn lợi thủy sản; c) Huấn luyện kỹ thuật, chuyển giao công nghệ về thủy sản.

2. Giám sát viên phải đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Là công chức, viên chức kiêm nhiệm do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cử; b) Có đủ sức khỏe và khả năng đi biển; c) Có trình độ chuyên môn về lĩnh vực giám sát; d) Thông thạo tiếng Anh hoặc ngôn ngữ thông dụng của quốc gia, vùng lãnh thổ có tàu nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam.

3. Trường hợp có công chức, viên chức, người lao động thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm việc trên tàu nước ngoài hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam theo dự án hoặc hợp đồng đã được phê duyệt thì không cử giám sát viên”.

- Bổ sung quy định về khai thác thủy sản bất hợp pháp (Điều 60) nhằm thống nhất với các quy định về chống đánh bắt bất hợp pháp và các quy định pháp luật khác. Theo đó, Khoản 2 Điều 60 Luật Thủy sản năm 2017 quy định: “…Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định tại khoản 1 Điều này thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.

5. Quản lý tàu cá, tàu công vụ thủy sản, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (Chương V)

Trên cơ sở kế thừa các quy định về quản lý tàu cá, dịch vụ hậu cần phục vụ hoạt động khai thác thủy sản trong Luật Thủy sản năm 2003, Luật Thủy sản năm 2017 đã bổ sung một số quy định mới như sau:

- Bổ sung quy định về quản lý đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá (Điều 62) và bảo đảm an toàn kỹ thuật tàu cá (Điều 67) theo hướng chuyển phương thức quản lý tàu cá từ phương thức quản lý công suất (theo quy định của Luật Thủy sản năm 2003) sang quản lý theo chiều dài lớn nhất của tàu, cụ thể:

Điều 62 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

“1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công khai hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản, số lượng Giấy phép khai thác thủy sản trên biển được cấp mới của địa phương; cấp văn bản chấp thuận đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá trên biển căn cứ vào hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản; xây dựng, công khai tiêu chí đặc thù của địa phương và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị cấp văn bản chấp thuận đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá trên biển; quy định về đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá hoạt động trong nội địa thuộc phạm vi quản lý.   2. Tổ chức, cá nhân đóng mới, cải hoán, thuê, mua tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét trở lên hoạt động trên biển phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận”.

Điều 67 Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

“1. Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 mét trở lên phải được đăng kiểm, phân cấp và cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật.

2. Tàu cá quy định tại khoản 1 Điều này đóng mới, cải hoán phải được tổ chức đăng kiểm giám sát an toàn kỹ thuật, chất lượng phù hợp với hồ sơ thiết kế được thẩm định và cấp giấy tờ theo quy định.

3. Tàu cá không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này phải lắp đặt trang thiết bị bảo đảm an toàn kỹ thuật tàu cá khi hoạt động.

4. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết Điều này”.

- Bổ sung quy định về điều kiện cơ sở đóng mới, cải hoán tàu cá (Điều 63) theo hướng quy định chặt chẽ hơn về điều kiện của cơ sở khi tham gia đánh bắt tàu cá. Theo đó, cơ sở được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện đóng mới, cải hoán tàu cá khi đáp ứng các điều kiện:

 “1. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp; có phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp với chủng loại, kích cỡ tàu cá được đóng mới, cải hoán;

2. Có bộ phận giám sát, quản lý chất lượng để bảo đảm sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định;

3. Có nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh;

4. Có hệ thống quản lý chất lượng, quy trình công nghệ đáp ứng yêu cầu”.

- Bổ sung quy định về xuất khẩu tàu cá, nhập khẩu tàu cá, thuê tàu trần (Điều 66), cụ thể:

“1. Việc xuất khẩu tàu cá thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu. 2. Tổ chức, cá nhân được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép nhập khẩu tàu cá để khai thác thủy sản khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Trong hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản đã được xác định; b) Tàu cá có nguồn gốc hợp pháp; c) Tàu cá vỏ thép hoặc vỏ vật liệu mới; d) Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 24 mét trở lên; đ) Đối với nhập khẩu tàu cá, tuổi vỏ tàu không quá 05 năm, tuổi máy chính của tàu không quá 07 năm, tính từ năm sản xuất đến thời điểm nhập khẩu; e) Có Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá còn hiệu lực từ 06 tháng trở lên do tổ chức đăng kiểm của nước có tàu cấp. 3. Tổ chức, cá nhân được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép thuê tàu trần khi đáp ứng các điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 2 Điều này; tuổi vỏ tàu không quá 08 năm, tuổi máy chính của tàu không quá 10 năm, tính từ năm sản xuất đến thời điểm thuê; thời hạn thuê không quá 05 năm. 4. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cấp phép nhập khẩu tàu cá, thuê tàu trần; quy định việc tặng cho, viện trợ tàu cá”.

- Bổ sung nội dung quy định về xã hội hóa đăng kiểm tàu cá (Điều 68, 69, 70) nhằm huy động được các nguồn lực từ xã hội tham gia đầu tư vào hoạt động này nhằm giảm tải cho cơ quan quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho người dân trong hoạt động thủy sản, đồng thời, thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước hiện nay về việc tăng cường xã hội hóa dịch vụ công.

“1. Tổ chức, cá nhân được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đăng kiểm tàu cá khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của pháp luật; b) Có cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu; c) Có đội ngũ đăng kiểm viên đáp ứng yêu cầu; d) Có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này” (Điều 68).

- Sửa đổi, bổ sung quy định về đăng ký tàu cá (Điều 71) trên cơ sở kế thừa nội dung tại Điều 40 Luật Thủy sản năm 2003, bổ sung thêm thẩm quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong hoạt động quản lý đăng ký tàu cá, cụ thể:

“1. Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét trở lên phải được đăng ký vào sổ đăng ký tàu cá quốc gia và cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá theo quy định. Tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 06 mét do Ủy ban nhân dân cấp xã thống kê phục vụ công tác quản lý.

2. Thời hạn của Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá được quy định như sau: a) Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá được cấp không thời hạn đối với tàu cá đóng mới, cải hoán, nhập khẩu, mua bán, tặng cho, viện trợ; b) Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá được cấp có thời hạn bằng thời hạn thuê đối với trường hợp thuê tàu trần.

3. Tàu cá được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá khi đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có giấy tờ chứng minh về sở hữu hợp pháp tàu cá; b) Có Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá đối với tàu cá quy định phải đăng kiểm; c) Có giấy chứng nhận tạm ngừng đăng ký tàu cá đối với trường hợp thuê tàu trần; giấy chứng nhận xóa đăng ký tàu cá đối với trường hợp nhập khẩu, mua bán, tặng cho hoặc chuyển tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; d) Chủ tàu cá có trụ sở hoặc nơi đăng ký thường trú tại Việt Nam.

4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp đăng ký tàu cá trên địa bàn.

5. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định trình tự, thủ tục đăng ký, xóa đăng ký tàu cá”.

- Bên cạnh quy định về đăng ký tàu cá, Luật Thủy sản năm 2017 cũng bổ sung quy định về xóa đăng ký tàu cá (Điều 72), cụ thể:

“1. Tàu cá bị xóa đăng ký thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Tàu cá bị hủy, phá dỡ hoặc chìm đắm không thể trục vớt; b) Tàu cá bị mất tích sau 01 năm kể từ ngày thông báo chính thức trên phương tiện thông tin đại chúng; c) Tàu cá được xuất khẩu, bán, tặng cho, viện trợ; d) Theo đề nghị của chủ tàu cá.

2. Khi xóa đăng ký, cơ quan có thẩm quyền đăng ký thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, xóa tên tàu cá trong sổ đăng ký tàu cá quốc gia và cấp Giấy chứng nhận xóa đăng ký tàu cá cho chủ tàu”.

- Bổ sung quy định về trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của chủ tàu cá (Điều 73); thuyền viên, người làm việc trên tàu cá (Điều 74); thuyền trưởng tàu cá (Điều 75) theo hướng chi tiết, cụ thể hơn.

          - Bổ sung quy định về quy hoạch, đầu tư xây dựng hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (Điều 77) theo hướng quy định rõ việc phát triển cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão của tàu cá phải phù hợp với quy hoạch cảng cá, đồng thời quy định trách nhiệm của Nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của cảng cá, cụ thể:

1. Quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp quốc gia phải phù hợp với chiến lược phát triển thủy sản, quy hoạch khác có liên quan và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

2. Đầu tư xây dựng cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá phải căn cứ quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp quốc gia đã được phê duyệt; phù hợp với quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp quốc gia; công bố và tổ chức hướng dẫn, kiểm tra thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt; quản lý hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp quốc gia theo quy định của pháp luật”.

- Bổ sung quy định về phân loại cảng cá (Điều 78), theo đó, cảng cá được phân làm 03 loại như sau:

+ Cảng cá loại I phải có các tiêu chí: Vị trí là nơi thu hút tàu cá của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, tàu nước ngoài vào bốc dỡ thủy sản và thực hiện các dịch vụ nghề cá khác; là đầu mối phân phối hàng thủy sản của khu vực; Các trang thiết bị chủ yếu phục vụ cho bốc dỡ hàng hóa của cảng được cơ giới hóa tối thiu 90%; Có diện tích vùng nước cảng tối thiểu từ 20 ha trở lên; Có độ sâu luồng vào cảng và vùng nước trước cầu cảng theo quy định của Chính phủ; Có diện tích vùng đất cảng từ 04 ha trở lên; đối với cảng cá tại đảo, diện tích vùng đất cảng phải từ 01 ha trở lên; có nhà làm việc, công trình hạ tầng kỹ thuật đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chng cháy, n; Lượng hàng thủy sản qua cảng từ 25.000 tấn/năm trở lên; đối với cảng cá tại đảo, lượng hàng thủy sản qua cảng từ 3.000 tn/năm trở lên.

+ Cảng cá loại II phải có các tiêu chí: Vị trí là nơi thu hút tàu cá của một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đến bc dỡ thủy sản và thực hiện các dịch vụ nghề cá khác; là đầu mối phân phối hàng thủy sản của địa phương; Các trang thiết bị chủ yếu phục vụ cho bốc dỡ hàng hóa của cảng được cơ giới hóa ti thiu 70%; Có diện tích vùng nước cảng tối thiểu từ 10 ha trở lên; Có độ sâu luồng vào cảng và vùng nước trước cầu cảng theo quy định của Chính phủ; Có diện tích vùng đất cảng từ 2,5 ha trở lên; đối với cảng cá tại đảo, diện tích vùng đất cảng phải từ 0,5 ha trở lên; có nhà làm việc, công trình hạ tầng kỹ thuật đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chống cháy, n; Lượng hàng thủy sản qua cảng từ 15.000 tấn/năm trở lên; đối với cảng cá tại đảo, lượng hàng thủy sản qua cảng từ 1.000 tn/năm trở lên.

+ Cảng cá loại III phải có các tiêu chí: Vị trí là nơi thu hút tàu cá của các địa phương trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Có diện tích vùng đất cảng từ 0,5 ha trở lên; đối với cảng cá tại đảo, diện tích vùng đất cảng phải từ 0,3 ha trở lên; có nhà làm việc, công trình hạ tầng kỹ thuật đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng, chống cháy, n.

- Bổ sung quy định đối với tàu cá Việt Nam ra, vào cảng cá (Điều 82)

1. Thuyền trưởng phải thông báo ít nhất trước 01 giờ khi tàu vào cảng cá cho tổ chức quản lý cảng cá về số đăng ký của tàu, cỡ loại tàu, các yêu cầu về dịch vụ và yêu cầu khác nếu có, trừ trường hợp bất khả kháng. 2. Thuyền trưởng phải tuân thủ sự điều động tàu của tổ chức quản lý cảng cá và nội quy của cảng cá khtàu vào cảng cá. 3. Chủ tàu, thuyền trưởng phải tuân thủ việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chấp hành quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ; bảo đảm an toàn cho người và tàu cá. 4. Khi tàu rời cảng, thuyền trưởng phải thông báo ít nhất trước 01 giờ cho tổ chức quản lý cảng cá. 5. Tàu cá không được rời cảng cá trong các trường hợp sau đây: a) Không bảo đảm điều kiện an toàn cho người và tàu cá; b) Có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường hợp bị tạm giữ phương tiện theo quy định của pháp luật; c) Có lệnh bắt giữ, tạm giữ tàu cá theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền”.

- Bổ sung quy định đối với tàu nước ngoài hoạt động thủy sản tại Việt Nam ra, vào cảng cá, cụ thể:

“1. Tàu nước ngoài chỉ được vào cảng cá đã được ghi trong giấy phép hoạt động thủy sản hoặc cảng cá được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chấp thuận. 2. Trước khi vào cảng cá, thuyền trưởng phải thông báo ít nhất trước 24 giờ cho tổ chức quản lý cảng cá về tên tàu, hô hiệu, số đăng ký tàu, cỡ loại tàu, cơ quan cấp giấy phép khai thác, sản lượng, loài thủy sản trên tàu, thời gian dự kiến cập cảng và yêu cầu trợ giúp nếu có. 3. Khi vào cảng cá, thuyền trưởng phải tuân thủ nội quy của cảng cá và sự điều động tàu của tổ chức quản lý cảng cá, xuất trình và khai báo các thông tin, giấy tờ sau đây: a) Sổ danh bạ thuyền viên và hộ chiếu của người đi trên tàu; b) Giấy phép hoạt động thủy sản trong vùng biển Việt Nam; c) Mục đích vào cảng cá; d) Thời gian chuyến biển; đ) Khối lượng, thành phần loài thủy sản khai thác hoặc được chuyển tải trên tàu cá đối với tàu khai thác và tàu vận chuyển thủy sản; e) Vị trí, vùng biển khai thác, sản lượng thủy sản trên tàu đối với tàu khai thác thủy sản. 4. Trường hợp thuyền trưởng xuất trình giấy tờ khai thác thủy sản được xác nhận bởi cơ quan thẩm quyền nước ngoài thì không phải khai báo nội dung quy định tại các điểm d, đ và e khoản 3 Điều này. 5. Thuyền trưởng, thuyền viên và người trên tàu phải thực hiện thủ tục về xuất cảnh, nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch theo quy định của pháp luật. 6. Khi tàu rời cảng cá, thuyền trưởng phải thông báo ít nhất trước 12 giờ cho tổ chức quản lý cảng cá. 7. Đối với tàu vào cảng cá trong trường hợp bất khả kháng, thuyền trưởng hoặc người điều khiển tàu ngay khi cập cảng cá phải thực hiện như sau: a) Thông báo cho tổ chức quản lý cảng cá về tình trạng của tàu và số người trên tàu; chứng minh về tình trạng bất khả kháng; nêu rõ yêu cầu cần giúp đỡ; b) Tuân thủ quy định tại khoản 5 Điều này. 8. Chủ tàu, thuyền trưởng phải tạo điều kiện thuận lợi và tuân thủ việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chấp hành quy định của pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ; bảo đảm an toàn cho người và tàu. 9. Chủ tàu, thuyền trưởng phải chịu chi phí theo quy định”.

          - Sửa đổi, bổ sung quy định về khu neo đậu tránh trú bão tàu cá theo hướng nhà nước có trách nhiệm bảo đảm có đủ khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá và đầu tư xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão tàu cá (Điều 84, 85, 86), cụ thể:

+ Về khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá được phân loại gồm cấp vùng và cấp tỉnh (Điều 84), theo đó, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp vùng đáp ứng các tiêu chí sau đây: có vị trí là nơi gần ngư trường, tập trung tàu cá của nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất cho tàu cá vào neo đậu tránh trú bão; có điều kiện tự nhiên thuận lợi, bảo đảm an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão; có khả năng neo đậu tối thiểu 1.000 tàu cá. Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá cấp tỉnh đáp ứng các tiêu chí sau đây: có vị trí là nơi gần ngư trường truyền thống của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đáp ứng thời gian di chuyển nhanh nhất cho tàu cá vào neo đậu tránh trú bão; có điều kiện tự nhiên thuận lợi, bảo đảm an toàn cho tàu cá vào neo đậu tránh trú bão; có khả năng neo đậu tối thiểu 600 tàu cá”.

+ Về quản lý khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (Điều 85), Luật Thủy sản năm 2017 quy định:

“1. Trong thời gian sử dụng cho tàu cá neo đậu tránh trú bão, khu neo đậu tránh trú bão do Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn của địa phương quản lý, điều hành. 2. Trong thời gian không sử dụng cho tàu cá neo đậu tránh trú bão, việc quản lý, sử dụng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo quy định sau đây: a) Khu neo đậu tránh trú bão có vùng nước liền kề với vùng nước của cảng cá thì giao tổ chức quản lý cảng cá quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật; b) Khu neo đậu tránh trú bão có vùng nước không liền kề với vùng nước của cảng cá thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho tổ chức phù hợp quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. 3. Tổ chức được giao quản lý, sử dụng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá có trách nhiệm xây dựng kế hoạch duy tu, bảo dưỡng công trình và được sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước để tổ chức thực hiện. 4. Quy định đối với tàu cá ra, vào khu neo đậu tránh trú bão như sau: a) Trường hợp có thiên tai, tàu cá và các loại tàu thuyền khác vào khu neo đậu tránh trú bão không phải nộp phí; b) Thuyền trưởng hoặc người điều khiển tàu cá khi vào khu neo đậu tránh trú bão phải chấp hành sự điều hành và hướng dẫn của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; c) Khi đã neo đậu an toàn, thuyền trưởng hoặc người điều khiển tàu cá phải thông báo cho Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn về tên, số đăng ký, tình trạng của tàu, số người trên tàu và yêu cầu khác nếu có; d) Tàu cá chỉ được rời khu neo đậu tránh trú bão khi có thông báo hoặc có lệnh của Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; đ) Trường hợp không có thiên tai, tàu, thuyền vào neo đậu phải nộp phí và các chi phí khác theo quy định; chấp hành sự điều hành, hướng dẫn của tổ chức được giao quản lý, sử dụng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá”.

+ Về danh sách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (Điều 86), Luật quy định: Trước ngày 01 tháng 02 hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rà soát, thống kê báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn danh sách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đủ điều kiện hoạt động để công bố trên phạm vi cả nước. Trước ngày 31 tháng 3 hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gửi văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng danh sách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đủ điều kiện hoạt động trên phạm vi cả nước. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo danh sách khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá trên địa bàn.

6. Kiểm ngư (Chương VI)

          Đây là chương mới so với Luật Thủy sản 2003, quy định cụ thể về chức năng kiểm ngư; nhiệm vụ kiểm ngư; quyền hạn và trách nhiệm của kiểm ngư; phối hợp trong hoạt động của lượng kiểm ngư. Việc bổ sung Chương Kiểm ngư vào Luật là rất cần thiết trong tình hình hiện nay, theo đó, Luật Thủy sản năm 2017 khẳng định Kiểm ngư là lực lượng chuyên trách của Nhà nước, thực hiện chức năng bảo đảm thực thi pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản.

          - Về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm ngư (Điều 88):

+ Kiểm ngư có nhiệm vụ sau đây: Thực hiện tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế, pháp luật các nước có liên quan trong lĩnh vực thủy sản; hướng dẫn ngư dân và tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về thủy sản; Điều động lực lượng phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn theo quy định của pháp luật; tham gia công tác phòng, chống thiên tai; Tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển theo quy định của pháp luật; Triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế về kiểm ngư; Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức, viên chức, kiểm ngư viên, thuyền viên tàu kiểm ngư; Phối hợp với cơ quan khác có liên quan trong hoạt động kiểm ngư.

+ Kiểm ngư có quyền hạn sau đây: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho công tác thanh tra, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, điều tra, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Quản lý, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ kiểm ngư theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ và quy định khác của pháp luật có liên quan; Truy đuổi, bắt, giữ và áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật trong trường hợp người và phương tiện vi phạm pháp luật không tuân theo hiệu lệnh, chống đối hoặc cố tình bỏ chạy”

- Về tổ chức, trang bị, chế độ chính sách đối với kiểm ngư (Điều 89 đến Điều 95):

+ Hệ thống Kiểm ngư bao gồm Kiểm ngư trung ương và kiểm ngư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển. Kiểm như tỉnh được tổ chưc trên cơ sở yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thủy sản và nguồn lực của địa phương (Điều 89);

+ Luật giao Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Chính phủ quy định cụ thể về chế độ chính sách, trang thiết bị cho cán bộ kiểm ngư và tiêu trí thành lập tổ chức kiểm ngư cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Bên cạnh đó, Luật khẳng định, tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính của Kiểm ngư được nộp vào ngân sách nhà nước. Cơ quan Kiểm ngư được cấp lại một phần kinh phí thu được từ xử phạt vi phạm hành chính để phục vụ cho hoạt động kiểm ngư (Điều 93, 94).

- Về chỉ đạo, điều hành lực lượng kiểm ngư: luật quy định rõ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương trong việc chỉ đạo và điều hành lực lượng Kiểm ngư (Điều 95).

7. Mua, bán, sơ chế, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản (Chương VII)

Chương này quy định cụ thể về thu mua, sơ chế thuỷ sản; chế biến thủy sản; bảo quản nguyên liệu thuỷ sản, sản phẩm thuỷ sản; xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản và sản phẩm hàng hoá thuỷ sản; chợ đấu giá thủy sản và quản lý chất lượng an toàn thực phẩm thuỷ sản. Kế thừa Luật năm 2003, Luật năm 2017 bổ sung quy định về sơ chế, thu gom thủy sản, cụ thể như sau:

- Sắp xếp lại thứ tự các điều luật theo chuỗi sản xuất từ thu mua, sơ chế đến chế biến, bảo quản, xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu thủy sản và sản phẩm thủy sản, chợ đấu giá thủy sản và quản lý an toàn thực phẩm thủy sản.

- Bổ sung quy định mới về mua, bán, sơ chế, chế biến thủy sản, sản phẩm thủy sản (Điều 96), theo đó:

“1. Cơ sở mua, bán, sơ chế, chế biến thủy sản, sản phẩm thủy sản phải đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ.

2. Thủy sản, sản phẩm thủy sản được mua, bán, sơ chế, chế biến phải có hồ sơ nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm.

3. Mua, bán thủy sản tại vùng công bố dịch bệnh phải thực hiện theo quy định của pháp luật về thú y, bảo vệ và kiểm dịch thực vật”.

- Bổ sung nội dung mới quy định về nhập khẩu, xuất khẩu thủy sản sống so với Luật Thủy sản năm 2003 (Điều 98), cụ thể:

 “…3. Tổ chức, cá nhân được phép xuất khẩu thủy sản sống trong các trường hợp sau đây: a) Không có tên trong Danh mục loài thủy sản cấm xuất khẩu; b) Có tên trong Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện khi đáp ứng các điều kiện quy định trong Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện; c) Có tên trong Danh mục loài thủy sản cấm xuất khẩu hoặc không đáp ứng điều kiện quy định trong Danh mục loài thủy sản xuất khẩu có điều kiện vì mục đích nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép trên cơ sở chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ. 4. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thủy sản sống chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam để làm thực phẩm, làm cảnh, giải trí phải được đánh giá rủi ro theo quy định và được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép. Đối với nhập khẩu thủy sản sống chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam để trưng bày tại hội chợ, triển lãm, nghiên cứu khoa học phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp phép…”

- Bổ sung quy định về chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm (Điều 99), cụ thể:

“1. Hoạt động chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh loài thủy sản hoang dã nguy cấp, quý, hiếm thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm phải tuân thủ quy định của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp và quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Mẫu vật các loài thủy sản thuộc Phụ lục của Công ước quốc tế về buôn bán các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm được chế biến phải bảo đảm các quy định sau đây: a) Mẫu vật có nguồn gốc hợp pháp từ cơ sở nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo; b) Mẫu vật có nguồn gốc khai thác hợp pháp từ tự nhiên; c) Mẫu vật sau xử lý tịch thu theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về chợ thủy sản đầu mối (Điều 100) theo hướng bổ sung trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý, điều hành, cụ thể:

“1. Chợ thủy sản đầu mối được bố trí ở vùng sản xuất thủy sản tập trung hoặc nơi tiêu thụ thủy sản với khối lượng lớn, bao gồm hoạt động giao dịch, mua, bán, đấu giá thủy sản. 2. Phát triển chợ thủy sản đầu mối phải phù hợp với quy hoạch. 3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện kiểm soát an toàn thực phẩm tại chợ thủy sản đầu mối trên địa bàn. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thủy sản, hướng dẫn kiểm tra tại chợ thủy sản đầu mối, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm của chợ thủy sản đầu mối”.

8. Quản lý nhà nước về thủy sản (Chương VIII)

Kế thừa các quy định tại Chương VIII Luật Thủy sản năm 2003, Luật Thủy sản năm 2017 quy định về trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ (Điều 101); trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 102); trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội (Điều 103), cụ thể như sau:

- Về trách nhiệm của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ (Điều 101), Luật quy định:

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thủy sản trong phạm vi cả nước. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thủy sản và có trách nhiệm sau đây: a) Quản lý nhà nước về hoạt động thủy sản trong phạm vi cả nước; xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về hoạt động thủy sản; b) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực thủy sản; c) Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh thủy sản, khai thác thủy sản trên biển; quản lý chế biến, thương mại thủy sản; chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản theo quy định của pháp luật; xây dựng, quản lý, hướng dẫn cập nhật, truy cập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; d) Quản lý nhà nước về kiểm ngư; chỉ đạo thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm ngư; đ) Tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản; ủy quyền, phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật; e) Tổ chức điều tra, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ; thẩm định, đánh giá tác động các hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng đến hoạt động thủy sản; g) Tổ chức hướng dẫn, kiểm tra quản lý nhà nước về cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá trên phạm vi cả nước; tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo quy định của pháp luật; công bố danh sách cảng chỉ định có đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác; h) Quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong phạm vi cả nước; i) Quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện đào tạo, tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực thủy sản; tổ chức thực hiện, hướng dẫn thống kê, thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực thủy sản; k) Quy định về chỉ tiêu, chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản, quy định quản lý kỹ thuật chuyên ngành trong hoạt động thủy sản; l) Quản lý, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền; là cơ quan đầu mối thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản; m) Chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; n) Tổ chức thực hiện lưu giữ giống gốc, loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế. 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về thủy sản”

- Về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 102), Luật quy định:

“1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây: a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thi hành pháp luật về thủy sản; b) Chỉ đạo, tổ chức quản lý hoạt động thủy sản trên địa bàn; tổ chức sản xuất khai thác thủy sản; c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập huấn kiến thức, về thủy sản; xây dựng cơ sở dữ liệu về thủy sản trên địa bàn và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; d) Tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản theo phân công, phân cấp; đ) Chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền; e) Bảo đảm chế độ, kinh phí, các điều kiện hoạt động cho Kiểm ngư địa phương theo quy định của pháp luật; g) Tổ chức quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo phân cấp; thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chấp hành quy định của pháp luật về khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an toàn thực phẩm trên tàu cá, tại cảng cá, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ tại cảng cá; thu thập, tổng hợp báo cáo số liệu về thủy sản qua cảng cá theo quy định; h) Quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn. 2. Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây: a) Thực hiện nội dung, biện pháp quản lý trong hoạt động thủy sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật; b) Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản theo phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; c) Tổ chức, thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thủy sản trên địa bàn”

- Về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội (Điều 103):

“1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách, pháp luật về thủy sản; tham gia ý kiến xây dựng pháp luật, thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong lĩnh vực thủy sản theo quy định của pháp luật. 2. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội tham gia ý kiến xây dựng pháp luật trong lĩnh vực thủy sản; tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về thủy sản; tư vấn, tập huấn kỹ thuật về thủy sản; tham gia thực hiện hoạt động bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản”.

9. Điều khoản thi hành (Chương IX)

Chương này gồm 02 điều, bao gồm: Hiệu lực thi hành (Điều 104) và Quy định chuyển tiếp (Điều 105), cụ thể:

- Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

- Về quy định chuyển tiếp, Luật quy định:

“1. Sửa đổi mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13như sau: mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thủy sản đối với cá nhân là 1.000.000.000 đồng. 2. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, chứng chỉ, văn bản chấp thuận trong lĩnh vực thủy sản đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thì được sử dụng cho đến khi hết thời hạn. 3. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật đã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ hoặc thay thế”./.

          

binh-luan

chua-co-binh-luan-nao